Cần Thơ

GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CẦN THƠ
1. Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
Thành phố Cần Thơ nằm trong vùng trung - hạ lưu và ở vị trí trung tâm châu thổ sông Cửu Long, trải dài trên 55 km dọc bờ tây sông Hậu, tổng diện tích tự nhiên 1.400,96 km2, chiếm 3,49% diện tích toàn vùng. Phía bắc giáp tỉnh An Giang; phía đông giáp tỉnh Đồng Tháp, Vĩnh Long; phía tây giáp tỉnh Kiên Giang; phía nam giáp tỉnh Hậu Giang. Tọa độ địa lý, TP Cần Thơ nằm trong giới hạn 105 độ13'38" - 105 độ 50'35" kinh độ Đông và 9 độ 55'08" - 10 độ 19'38" vĩ độ Bắc. Về tổ chức hành chính, Tp. Cần Thơ gồm 5 quận (Ninh Kiều, Cái Răng, Bình Thủy, Ô Môn và Thốt Nốt) và 4 huyện (Phong Điền, Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh, Thới Lai) với 85 đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn (5 thị trấn, 36 xã, 44 phường).
Ngày 19 tháng 4 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 492/QĐ-TTg thành lập Vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long gồm 4 tỉnh, thành phố trực thuôc Trung ương là: Thành phố Cần Thơ, tỉnh An Giang, tỉnh Kiên Giang và tỉnh Cà Mau nhằm phát huy tiềm năng, vị trí địa lý và các lợi thế so sánh của vùng và từng bước phát triển Vùng kinh tế trọng điển đồng bằng sông Cửu Long thành một trong những vùng phát triển lớn về sản xuất lúa gạo, nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản, có đón góp lớn vào xuất khẩu nông thủy sản của cả nước. Trong đó, thành phố Cần Thơ là một cực phát triển, đóng vai trò động lực thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Đặc điểm địa hình
Địa mạo, địa hình, địa chất của thành phố bao gồm 3 dạng địa mạo: đê tự nhiên ven sông Hậu, đồng lũ nửa mở và đồng bằng châu thổ. Cao trình phổ biến từ + 0,8 - 1,0 m, thấp dần từ Đông Bắc sang Tây Nam. Địa bàn được hình thành chủ yếu từ quá trình bồi lắng trầm tích biển và phù sa của sông Cửu Long. 
Khí hậu
Thành phố Cần Thơ nằm trong vùng khí hậu của đồng bằng sông Cửu Long với các đặc điểm chung: nền nhiệt dồi dào, biên độ nhiệt ngày - đêm nhỏ; các chỉ tiêu khí hậu (ánh sáng, lượng mưa, gió, bốc hơi, ẩm độ không khí...) phân hóa thành hai mùa tương phản mùa mưa và mùa khô.
 
Cần thơ - 1

2. Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên đất, tài nguyên nước
Đất ở Cần Thơ, có hai nhóm đất chính là nhóm đất phù sa(chiếm 84% diện tích tự nhiên, bao gồm 5 loại đất) và nhóm đất phèn (chiếm 16% diện tích tự nhiên, bao gồm 3 loại đất).
Cần Thơ nằm ở khu vực bồi tụ phù sa nhiều năm của sông Mê Kông, có địa hình rất đặc trưng cho dạng địa hình đồng bằng. Nơi đây có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt. Trong đó: sông Hậu là con sông lớn nhất với tổng chiều dài chảy qua thành phố là 65 km. Tổng lượng nước sông Hậu đổ ra biển khoảng 200 tỷ m3/năm (chiếm 41% tổng lượng nước của sông Mê Kông), lưu lượng nước bình quân tại Cần Thơ là 14.800 m3/giây.
Tổng lượng phù sa của sông Hậu là 35 triệu m3/năm (chiếm gần 1/2 tổng lượng phù sa sông Mê Kông); sông Cái Lớn dài 20 km, chiều rộng cửa sông 600 - 700 m, độ sâu 10 - 12 m nên có khả năng tiêu, thoát nước rất tốt; sông Cần Thơ dài 16 km, đổ ra sông Hậu tại bến Ninh Kiều. Sông Cần Thơ có nước ngọt quanh năm, vừa có tác dụng tưới nước trong mùa cạn, vừa có tác dụng tiêu úng trong mùa lũ và có ý nghĩa lớn về giao thông. Bên cạnh đó, Cần Thơ còn có hệ thống kênh rạch nhỏ dày đặc, cho nước ngọt suốt hai mùa mưa nắng, tạo điều kiện cho nhà nông làm thuỷ lợi và cải tạo đất.
Tài nguyên thủy sinh vật của thành phố tương đối đa dạng, phong phú bao gồm các loài sinh vật, thực vật đặc trưng cho vùng phù sa ngọt; động vật trên cạn và thủy sinh vật,…. Ngoài ra, thành phố còn có vườn cò Bằng Lăng tại quận Thốt Nốt.
Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản của thành phố bao gồm: đất sét làm gạch ngói với trữ lượng 16,8 triệu m3, đất sét dẻo, cát xây dựng với trữ lượng 70 triệu m3, than bùn với trữ lượng 30.000 - 150.000 tấn.
3. Kết cấu hạ tầng
Hệ thống cung cấp điện
Hiện nay, thành phố Cần Thơ được cấp điện chủ yếu từ nguồn điện lưới quốc gia (qua đường dây 220 kV Cai Lậy
- Trà Nóc và Cai Lậy - Rạch Giá) và nhà máy nhiệt điện Trà Nóc (tổng công suất 193,5 MW) cung cấp điện cho thành phố qua đường dây 110 KV và 6 trạm biến áp.
Ngoài nguồn cung cấp trên thành phố được Thủ tướng cho phép xây dựng dự án Trung tâm điện lực Ô Môn với tổng công suất cho 4 nhà máy 2.700 MW bao gồm: Ô môn 1: 600 MW, Ô môn 2: 720 MW; nhà máy điện FO/khí 660 MW và Ô Môn 4: 720 MW dự kiến hoàn thành cả 4 nhà máy vào năm 2013. Hiện nay, nhà máy tổ máy số 1 đã vận hành vào năm 2009.
Cấp thoát, nước
Cấp nước: Toàn thành phố có 11 nhà máy nước với tổng công suất 109.500 m3/ngày đêm. Phần lớn trung tâm xã đều có hệ thống cấp nước 10 - 20 m3/giờ và các cụm dân cư lớn 50 - 100 hộ có hệ nối mạng cấp nước sạch. Trong thời gian tới, cần phải tiếp tục nâng cấp và mở rộng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao.
Thoát nước: Hệ thống thoát nước hiện chỉ tập trung chủ yếu tại các phường trung tâm của quận Ninh Kiều, vừa thoát nước mưa, vừa thoát nước thải sinh hoạt. Tổng chiều dài hệ thống thoát nước là 23.509 m, đường cống Ø 300 - 1200 mm và 7.216 m các mương xây B=200-500 mm. Nhìn chung, hệ thống thoát nước trên địa bàn nội thị còn kém và đang xuống cấp, hệ thống thoát nước tại các trung tâm thị trấn không đủ năng lực tải.
Giao thông
Hệ thống giao thông đường bộ: Toàn thành phố có 2.762,84 km đường, mật độ 2,3 km/km2 (nếu không tính đường xã ấp, toàn thành phố có 698,548 km đường, mật độ 0,5 km/km2); trong đó có 123,715 km quốc lộ; 183,85 km đường tỉnh; 332,87 km đường huyện; 153,33 km đường đô thị; 1.969,075 km đường xã ấp khu phố với 3,98% mặt đường bê tông nóng, 26,26% nhựa, 27,74% rải đá, 17,44% cấp phối, còn lại là đường đất phần lớn sử dụng cho người đi bộ và xe 2 bánh với quy mô và tải trọng nhỏ.
Hệ thống giao thông đường sông: Mạng lưới đường thủy trên địa bàn có tổng chiều dài 1.157Km, trong đó có khoảng 619 km có khả năng vận tải cho loại phương tiện trọng tải từ 30 tấn trở lên (độ sâu trung bình >2,5m). Gồm: 6 tuyến do Trung ương quản lý (sông Hậu, sông Cần Thơ, kênh Cái Sắn, kênh Thị Đội, rạch Ô Môn, kênh Xà No) với tổng chiều dài 132,88 Km, đảm bảo cho phương tiện trọng tải từ 100 - 250 tấn hoạt động… Các tuyến đường sông do thành phố quản lý: 4 tuyến do thành phố quản lý (kênh Thốt Nốt, kênh Bà Đầm, rạch Cầu Nhiếm, rạch Ba Láng) tổng chiều dài 81,45Km, đảm bảo cho phương tiện trọng tải từ 30 - 50 tấn hoạt động được.. Các tuyến đường sông do quận - huyện quản lý: 40 tuyến do quận - huyện quản lý, tổng chiều dài 405,05Km, đảm bảo cho phương tiện trọng tải từ 15 - 60 tấn hoạt động được.
Giao thông hàng không: Sân bay Cần Thơ là sân bay lớn nhất khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đã chínht hức đi vào hoạt động khai thác thương mại các tuyến quốc nội từ ngày 03 tháng 01 năm 2009 và sẽ mở các tuyến bay quốc tế trong tương lai.
Hệ thống các công trình phục vụ giao thông: Cầu Cần Thơ bắc qua sông Hậu, khởi công vào tháng 9 năm 2004, đã hoàn thành và đưa vào sử dụng ngày 24 tháng 4 năm 2010. Ngoài ra, hệ thống cảng đang được nâng cấp, gồm: Cảng Cần Thơ (Càng Hoàng Diệu) có thể tiếp nhận tàu biển có tải trọng 10.000 - 20.000 DWT ; cảng Trà Nóc có 3 kho chứa lớn với dung lượng 40.000 tấn, khối lượng hàng hóa thông qua cảng có thể đạt 200.000 tấn/năm, có thể tiếp nhận tàu 2.500 DWT. Cảng Cái Cui là cảng mới được xây dựng có thể phục vụ cho tàu từ 10.000 - 20.000 DWT, khối lượng hàng hóa thông qua cảng là 4,2 trịêu tấn/năm, đã hoàn thành công trình giai đoạn I vào tháng 4 năm 2006; đang triển khai đầu tư giai đoạn 2. Sau khi thực hiện xong dự án nạo vét và xây dựng hệ thống đê tại cửa biển Quan Chánh Bố, cảng Cái Cui sẽ là cảng biển quốc tế tại TP. Cần Thơ. Nhìn chung hệ thống giao thông và công trình phục vụ giao thông đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội tại thời điểm hiện nay. Trong thời gian tới, thành phố sẽ tiếp tục đầu tư phát triển hoàn thiện hơn.
Thông tin liên lạc
Hệ thống bưu chính viễn thông của thành phố Cần Thơ được trang bị hiện đại, công nghệ cao, chất lượng đồng bộ, nối mạng hoàn chỉnh đến tất cả các tỉnh - thành trong nước và quốc tế.
Về bưu chính: 01 doanh nghiệp nhà nước và 24 doanh nghiệp tư nhân đóng trên địa bàn đảm nhận, có hệ thống ổn định với 35 bưu cục, 48 điểm bưu điện văn hóa xã và 216 đại lý bưu điện, điểm giao dịch chuyển phát.
Mạng lưới viễn thông được hiện đại hóa, chất lượng đồng bộ, nhiều loại hình dịch vụ hiện đại được triển khai, chất lượng dịch vụ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và thông tin liên lạc của vùng; hiện tại, trên địa bàn thành phố có 6 doanh nghiệp đang tham gia hoạt động trong lĩnh vực viễn thông, internet. Công nghiệp công nghệ thông tin có những chuyển biến mới, ứng dụng công nghệ thông tin trong xử lý công việc theo hướng số hóa, hiện có khoảng 150 doanh nghiệp hoạt động; công nghệ phần mềm và nội dung số đang có 5 doanh nghiệp hoạt động.
4. Tiềm năng du lịch
Thành phố Cần Thơ là đô thị lớn của vùng đồng bằng sông Cửu Long, là đầu mối giao thương nối liền các tỉnh trong vùng đến thành phố Hồ Chí Minh và sang Campuchia. Về phát triển du lịch, thành phố Cần Thơ có nhiều tiềm năng như:
- Tượng đài Bác Hồ, nhà Bảo tàng thành phố, nhà Bảo tàng Quân khu 9, đình Bình Thủy, chùa Khánh Quang, chùa Ông, chùa Nam Nhã Đường, Hội Linh Cổ Tự, chùa Munir Ansây, Long Quang Cổ Tự, mộ thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa, mộ nhà thơ Phan Văn Trị, Trường Đại học Cần Thơ, Viện nghiên cứu lúa ĐBSCL, nông trường Sông Hậu… có khả năng phát triển du lịch văn hóa.
- Hệ thống sông rạch chằng chịt và một số làng nghề truyền thống; các tiềm năng cảnh quan sinh thái như cồn Cái Khế, Cồn Khương, Cồn Ấu, cù lao Tân Lộc, làng hoa Thới Nhật, nhà lồng chợ cổ Cần Thơ, phố đi bộ dọc bến Ninh Kiều, chợ nổi Cái Răng, chợ nổi Phong Điền, du thuyền trên sông..., được kết nối với trung tâm thành phố bằng hệ thống giao thông đường bộ lẫn đường thủy rất thuận tiện, có khả năng phát triển du lịch sinh thái; tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư đã được phê duyệt, đáng chú ý là dự án Trung tâm văn hóa Tây Đô, Trung tâm văn hóa Khmer Nam bộ, dự án khôi phục lộ Vòng Cung - làng cổ Bình Thủy…
Ngoài ra, Cần Thơ còn đầu tư một số loại hình dịch vụ du lịch khác như khu vui chơi giải trí, du lịch hội thảo…, thành phố có khả năng đón tiếp và phục vụ ăn nghỉ cho du khách với hệ thống các nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ, đa phần đã được xếp hạng từ tiêu chuẩn đến 4 sao và một số nhà nghỉ dạng resort…, đáp ứng được nhu cầu ăn ở của du khách trong nước và quốc tế.
5. Nguồn nhân lực
Tính đến năm 2010, trên địa bàn thành phố Cần Thơ có 3 trường Đại học, 1 Trung tâm Đại học tại chức, 4 trường Cao đẳng, 5 trường Trung học chuyên nghiệp, 9 trường công nhân kỹ thuật, nhưng vẫn không đáp ứng đủ nguồn lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật và nghiệp vụ cho thành phố và khu vực. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động trong độ tuổi còn đi học tương đối cao (trên 7% lao động trong độ tuổi) có nhiều điều kiện phát triển phục vụ tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Thích và chia sẻ Tham gia Page cộng đồng

Cần Thơ